Thầy bói phán tôi khắc bố.
Bà nội tôi tin sái cổ, bắt tôi nhận tảng đá to tướng ở đầu làng làm bố, còn bắt tôi gọi bố đẻ là “Lão Vương”.
Lão Vương trong lòng ấm ức lắm, nhưng rồi tảng đá bị đội làm đường nổ mìn cho nát bét…
Tôi đành phải nhận một ông bố khác cứng cáp hơn để đỡ đạn thay cho Lão Vương.
Cây cầu đá vững chãi xem ra cũng ổn, ai ngờ vừa nhận bố xong thì cầu bị lũ cuốn sập.
Bà nội lại tìm một cây cổ thụ trăm tuổi trong làng cho tôi nhận làm bố.
Sau này cây cổ thụ được đào mang vào vườn bách thảo để bảo tồn, phen này ăn cơm nhà nước chắc là ổn định rồi nhỉ.
Kết quả, cây bị sét đánh cháy đen.
Đến cả cái lão giáo sư cặn bã ở trường đại học mà tôi vừa nhận làm bố cũng bị tai nạn giao thông vì say rượu mà chết…
Bà nội lập tức bắt tôi mua vé máy bay ra nước ngoài, nhận luôn ngọn núi hoa anh đào nổi tiếng của xứ sở mặt trời mọc làm bố.
Sau khi ngọn núi đó sạt lở, gia đình tôi họp khẩn cấp, cảm thấy năng lực này của tôi không thể bị mai một, bắt buộc phải giao nộp cho Nhà nước.
Ai mà ngờ được, chỉ nhờ tài “nhận bố”, tôi cũng ăn được cơm nhà nước!
—
Chương 1
Ông bố đầu tiên của tôi là một tảng đá xanh to bằng nửa thân người ở đầu làng, nằm chình ình ở đó bao nhiêu năm rồi. Mùa hè ngồi hóng mát, mùa đông chắn gió, bình thường rảnh rỗi còn có gà trèo lên ị bậy, chẳng ai thèm để ý đến nó.
Bà nội tôi đi quanh tảng đá ba vòng, càng nhìn càng ưng, lập tức vỗ đùi đánh đét:
“Chính nó!”
“Tảng đá này chắc chắn, nhìn là biết gánh được nghiệp.”
Lúc đó mẹ tôi đứng cạnh vẫn cố khuyên: “Mẹ ơi, ông thầy bói nói nhăng nói cuội đấy, làm gì có chuyện con cái khắc bố đẻ chứ?”
Bà nội trợn trừng mắt: “Chị thì biết cái gì? Tảng đá mạng nó cứng! Mạng chồng chị không cứng bằng đâu!”
Bố đẻ tôi — à không, đúng hơn là từ bé đến lớn tôi chẳng bao giờ gọi ông ấy là bố, tôi toàn gọi là Lão Vương. Hồi đó Lão Vương vẫn còn trẻ, đứng bên cạnh với vẻ mặt trầm cảm, hoài nghi nhân sinh:
“Mẹ, con vẫn đang thở sờ sờ ra đây cơ mà.”
Bà nội lườm nguýt: “Nhưng mạng anh đang treo lơ lửng đấy.”
Nói rồi bà cúi xuống vỗ nhẹ vào cái má phúng phính của tôi đang nằm trong tã lót, giọng điệu lập tức dịu dàng hẳn:
“Cháu ngoan, hôm nay bà nhận bố nuôi cho cháu nhé.”
Hồi đó tôi còn chưa cất nổi cái cổ, đương nhiên là chẳng có quyền lên tiếng gì. Chỉ biết vừa thổi bong bóng nước bọt, vừa bị ép gia nhập cái gia đình nặng mùi mê tín dị đoan này.
Nghi thức được tổ chức rất đầy đủ. Một quả táo đặt lên tảng đá, thắp ba nén nhang, buộc một sợi chỉ đỏ quanh “eo” tảng đá. Bà nội lẩm nhẩm khấn vái, cuối cùng bế tôi lên, đè đầu tôi xuống vái tảng đá ba cái.
Mẹ tôi ôm mặt, cạn lời.
Lão Vương cố gắng giãy giụa lần cuối: “Mẹ, thế này có phải hơi qua loa quá không?”
Bà nội cười gằn: “Qua loa cái gì? Mạng anh sắp đi tong đến nơi rồi kìa!”
Lão Vương ngoan ngoãn câm miệng.
Kể từ ngày đó, nhà tôi hình thành một hệ thống xưng hô vô cùng ảo ma.
Tảng đá kia là bố nuôi tôi.
Còn bố đẻ tôi, chỉ được gọi là “Lão Vương”. Bởi vì theo lời bà nội, chữ “Bố” nặng quá, gọi dễ gọi luôn cả tai ương về.
Bà nội là quyền uy tuyệt đối trong nhà. Mẹ tôi thì lười cãi. Còn bố tôi thì tiếc mạng. Cuối cùng tất cả đều nhất trí: Tôn trọng số phận, cũng là tôn trọng tảng đá.
Thế là tuổi thơ của tôi lớn lên trong một bầu không khí gia đình cực kỳ kỳ diệu. Trẻ con nhà người ta bập bẹ tập nói là “bố, mẹ”. Còn tôi, những từ đầu tiên thốt ra là “Mẹ”, “Bà”, “Bố” và “Lão Vương”.
Nghe đồn lần đầu tiên tôi gọi rõ ràng hai tiếng “Lão Vương”, bố đẻ tôi sững người, quay sang hỏi mẹ tôi:
“Nó đang chửi anh đấy à?”
Mẹ tôi nhịn cười đáp: “Cũng không hẳn là chửi, cùng lắm là xưng hô chính xác thôi.”
Bà nội thì vô cùng vui mừng rạng rỡ, khen tôi có linh tính: “Tốt, tốt lắm, không gọi là bố là chuẩn rồi. Giữ được mạng.”
Hồi bé người trong làng hay trêu tôi: “Bố cháu là ai thế?”
Tôi cười toe toét chỉ tay ra đầu làng: “Kia kìa.”
Mọi người nhìn theo hướng tay tôi chỉ, chỉ thấy mỗi một tảng đá. Bầu không khí thường sẽ tĩnh lặng mất hai giây. Sau đó bà nội tôi lại bồi thêm một câu: “Thằng còn sống thì gọi là Lão Vương.”
Nghe xong, biểu cảm của cả làng đều rất phức tạp.
Lúc nhỏ tôi chẳng thấy chuyện này có gì sai. Trong nhận thức của tôi, tảng đá ở đầu làng chính là bố tôi. Còn Lão Vương chỉ là một ông chú trung niên ngày nào cũng mua kẹo cho tôi, làm diều cho tôi, và thường xuyên bị bà nội, mẹ tôi mắng té tát không ngóc đầu lên nổi.
Tình cảm giữa tôi và “bố đá” khá tốt. Tảng đá to bè, mùa hè phơi nắng nóng lên nằm lên rất sướng. Cái hồi tôi còn chưa mặc quần đùi, ngày nào tôi cũng tồng ngồng trèo lên, cưỡi lên đầu “bố”, vỗ bạch bạch, cười khanh khách:
“Bố! Bố!”
Lần nào bà nội nhìn thấy cảnh này cũng tỏ vẻ mãn nguyện như đang chứng kiến một tình phụ tử sâu đậm: “Nhìn xem, thằng bé bám bố nó chưa kìa.”
Lão Vương: “…”
Sau này tôi lớn hơn chút, biết chạy nhảy rồi, lại càng thích ra chơi với bố đá. Lúc thì cầm cành cây nhỏ “chải đầu” cho bố. Lúc thì cầm kẹo đặt lên trên, bảo là cúng bố. Mùa hè nắng chang chang nóng rẫy, tôi cũng chẳng sợ nóng, chổng mông nằm ườn lên trên, vừa đổ mồ hôi hột vừa gọi bố.
Mẹ tôi hay bảo đầu óc tôi bị bà nội dạy cho lệch lạc hết rồi.
Nhưng tôi chẳng thấy thế. Trẻ con mà, biết gì đâu. Tôi chỉ biết mấy đứa trẻ con khác trong làng chẳng đứa nào có bố đá. Có mỗi tôi có, chứng tỏ nhà tôi rất là cao cấp.
Bước ngoặt xảy ra vào năm tôi năm tuổi.
Năm đó, cả nhà tôi sang làng bên cạnh ăn cỗ, ở lại mấy ngày. Lúc về làng, tôi tung tăng nhảy nhót, hí hửng định chạy ra chơi với bố.
Kết quả vừa ra đến đầu làng, tôi đứng hình. Làng đang làm đường. Tảng đá xanh to bằng nửa đầu người đâu mất tiêu rồi. Đầu làng chỉ còn lại một đống đá vụn xám xịt nằm lăn lóc bên lề đường đất mới lu phẳng, vỡ vụn đến mức chẳng nhìn ra hình thù cũ.
Tôi đứng bên đường, não bộ đình công. Vài giây sau, tôi òa khóc nức nở:
“Bố tôi đâu rồi —”
“Một ông bố to đùng của tôi đâu mất rồi —”
Tiếng khóc của tôi kinh thiên động địa. Mấy chú công nhân làm đường bị tôi gào đến mức ngừng cả cuốc xẻng. Cả làng cũng kéo ra xem, ai không biết chắc tưởng nhà tôi có tang thật.
Tôi ngồi bệt xuống đất, chỉ vào đống đá vụn gào đến đứt hơi:
“Ai nổ mìn bố tôi rồi!”
“Sao bố tôi lại ra nông nỗi này cơ chứ —”
Đầu làng im ắng hai giây. Rồi có người không nhịn được, phì cười:
“Thằng bé lại đi tìm bố đá của nó đấy.”
“Ối dào, công nhân người ta vừa nổ mìn dọn đường hôm qua xong.”
“Nó coi tảng đá đấy là bố thật à?”
Tôi khóc càng bạo hơn, lao vào ôm đống đá vụn, nước mắt nước mũi tèm lem. Mẹ tôi vội vàng chạy ra kéo tôi:
“Đừng khóc nữa, bẩn hết người bây giờ!”
Tôi hất tay mẹ ra, khóc cực kỳ nhập tâm:
“Bố con mất rồi!”
“Bố con vỡ nát hết rồi!”
Mẹ tôi vốn định nhịn, nghe câu này cũng suýt bật cười, cố nhịn lại, vừa vỗ lưng tôi vừa dỗ:
“Không sao không sao, đ… à không, bố nuôi con chỉ chuyển sang một hình thức tồn tại khác thôi.”
Tôi làm sao hiểu được mấy lời xạo sự của người lớn. Vỡ là vỡ, vỡ là mất. Mất tức là trời sập. Tôi vừa gào khóc, vừa thò tay bốc đá vụn nhét vào túi quần, vớt vát được tí nào hay tí ấy.
Vừa nhặt được hai cục, tôi nghe thấy bà nội đứng sau lưng lẩm bẩm:
“Xong rồi.”
“Thế mạng thật rồi.”
Lão Vương nghe thế cau mày: “Mẹ, người ta làm đường nên nổ đá, liên quan gì đến con?”
Bà nội quay ngoắt lại trừng mắt: “Sao lại không liên quan? Lúc đi về anh đi xe máy suýt nữa thì ngã xuống mương còn gì!”
Lão Vương cãi: “Đấy là do má phanh bị mòn…”
“Mòn cái gì mà mòn? Nếu không có tảng đá đỡ hộ một kiếp, thì thằng bị mòn là anh rồi!”
Lão Vương: “…”
Câu này cay quá. Lão Vương chọn mạng sống, nên chọn im lặng.
Bà nội ngồi xổm xuống, xoa đầu tôi, nhìn đống đá vụn với ánh mắt đầy bi tráng:
“Đúng là một ông bố tốt.”
“Gánh vác bao nhiêu năm, cuối cùng cũng không gồng nổi nữa.”
Tôi nấc cụt một cái. Biểu cảm của mẹ tôi và Lão Vương lại càng thêm phức tạp.
Đêm hôm đó, bà nội tôi thức trắng. Bà ngồi ngoài sân, cầm đèn pin soi ngang soi dọc, soi hết mọi ngóc ngách đầu làng. Nửa đêm tôi dậy đi vệ sinh, thấy bà đứng ở cửa ngó ra ngoài, giật nảy mình:
“Bà làm gì đấy?”
Bà quay lại nhìn tôi, vẻ mặt nghiêm túc chưa từng thấy: “Tìm đường lui cho bố mày.”
Tôi ngớ người: “Bố con mất rồi mà?”
Bà xua tay: “Bà đang nói Lão Vương.”
Tôi: “À.”
Câu trả lời rất hợp lý. Thế là tôi yên tâm đi ngủ tiếp.
Sáng hôm sau, bà nội bắt đầu đi vi hành quanh làng.
Đầu tiên bà ngắm cái giếng cổ đầu làng. Lắc đầu: “Không được, giếng này âm khí nặng quá, nhận xong sợ thằng bé đêm nằm mơ ác mộng.”
Tiếp theo ngắm cái cối đá ở sân phơi thóc. Cau mày: “Thấp quá, không trấn áp được bản mệnh.”
Cuối cùng, bà đứng trước cây cầu đá cũ đầu làng, ánh mắt sáng rực. Đó là một cây cầu đá rất lâu năm, mố cầu to, mặt cầu rộng, người làng đi qua sông đều đi qua đây.
Bà nội đi quanh cầu hai vòng, cúi xuống vỗ vỗ lên mặt cầu. Cuối cùng, bà gật đầu hài lòng: “Cái này được.”
Lão Vương đang đứng phía sau hút thuốc, nghe thế suýt nữa sặc khói vào phổi:
“Mẹ, đừng bảo với con là…”
“Đúng thế,” bà nội chốt hạ chắc nịch. “Đồng chí Đá đã hy sinh, tiếp theo cho Cầu lên thay thế.”
Nghe đến đây, mũi tôi sụt sịt, nước mắt lại ứa ra: “Bố đá của con chết thật rồi hả bà?”
Bà nội xoa đầu tôi: “Cháu ngoan, người ta phải nhìn về phía trước. Từ hôm nay, cháu có bố hai rồi.”
Đối với chuyện “đổi bố”, tôi thích nghi cực kỳ nhanh. Chủ yếu là vì tôi còn nhỏ, dễ uốn nắn. Hơn nữa giáo dục gia đình từ bé đã gieo vào đầu tôi tư tưởng: Bố không nhất thiết phải là thứ biết thở, quan trọng nhất là phải bền, phải chống chịu tốt.
Nên khi bà nội tuyên bố cây cầu đầu làng sẽ thay thế tảng đá làm bố nuôi mới của tôi, tôi chỉ nhìn cây cầu mấy cái rồi hỏi:
“Thế từ nay, con phải gọi nó là Bố Hai ạ?”
Bà nội vô cùng hài lòng: “Đúng rồi, cháu ngoan thông minh lắm.”
Bố tôi đứng cạnh nghe mà giật khóe mắt: “Sao lại còn chia theo vai vế nữa?”
Bà nội lườm: “Nói thừa, thằng trước chẳng phải đã là Bố Cả rồi sao?”
Ngày nhận Bố Hai, quy trình còn bài bản hơn cả đợt nhận tảng đá. Chắc là bà nội đã có kinh nghiệm, lần này còn cố ý chọn ngày lành tháng tốt, chuẩn bị vô cùng chu đáo.
Ba nén nhang, một quả táo, một sợi chỉ đỏ, thậm chí còn kiếm đâu ra mảnh vải đỏ lót lên trụ cầu, làm như cầu sắp đi lấy vợ.
Mẹ tôi đứng cạnh, thì thầm với Lão Vương: “Mẹ anh dạo này làm mấy trò này chuyên nghiệp quá nhỉ.”
Lão Vương thở dài: “Bà ấy sắp mở thành chuỗi công nghiệp luôn rồi.”
Bà nội tai thính, quay lại nạt: “Im mồm, đứng trước mặt cầu đừng có nói gở.”
Lão Vương lập tức nín bặt. Suy cho cùng dù có không tin đến mấy, thì thi hài của ông bố tiền nhiệm… à không, hài cốt còn đang rải dưới đường kia kìa, ít nhiều cũng có tính răn đe.
Tôi bưng quả táo, đặt cái “bộp” trước trụ cầu, bị bà nội ấn đầu vái ba vái, rồi dõng dạc gọi:
“Bố Hai!”
Bà nội mừng rỡ: “Giỏi, gọi hay lắm, gọi lại tiếng nữa xem nào.”
“Bố Hai!”
“Tiếng nữa.”
“Bố Hai!”
Cầu đương nhiên không biết trả lời. Nhưng bà nội bảo, chuyện này có thờ có thiêng, cầu không nói gì tức là ngầm đồng ý rồi. Tôi tin sái cổ. Sự im lặng, đó chính là biểu hiện của tình phụ tử trưởng thành.
Kể từ ngày đó, tôi lại có tình thương của bố. Hơn nữa nói thật, Bố Cầu Hai tiện hơn Bố Đá nhiều. Bố Đá nằm tít đầu làng, muốn tìm phải cất công chạy ra. Còn Bố Hai thì khác, ngày nào đi học về tôi cũng phải đi qua, đồng nghĩa với việc đưa chữ hiếu vào thẳng lộ trình sinh hoạt hằng ngày.
Sáng khoác ba lô ra khỏi cửa, đi ngang qua đầu cầu, tôi vung tay: “Bố Hai, con đi học đây!”
Chiều về, giày dính đầy bùn đất, tôi nhảy cẫng lên đạp bình bịch lên cầu: “Bố Hai, con về rồi!”
Trước khi thi tôi còn phải ra sờ vào lan can cầu: “Bố Hai, phù hộ cho con đừng đứng bét lớp.”
Có hôm tan học trời mưa to, mặt cầu trơn tuột, tôi vừa che ô vừa rón rén đi: “Bố Hai, nay bố hơi trơn đấy.”
Cầu tất nhiên không thưa. Nhưng trong thâm tâm tôi, đó là một tình thương ổn định. Bố Hai tuy không biết nói, nhưng ngày nào bố cũng ở đó, ai muốn đi qua sông cũng phải dẫm lên bố, chứng tỏ bố tôi rất có bản lĩnh, rất gánh vác.
Lâu dần, người làng cũng quen. Tôi chạy trên cầu gọi bố, mấy ông bác đang làm ruộng nghe thấy còn chẳng thèm ngẩng đầu lên, cùng lắm là cảm thán: “Thằng ranh này tình cảm với bố cầu của nó gớm.”