Cánh cửa đó chìm trong bóng tối, tựa như một cái miệng câm lặng.
Tôi không đi lên.
Không phải vì sợ, mà là vì tôi chưa biết phải đối mặt ra sao — nếu đẩy cánh cửa đó ra và nhìn thấy khuôn mặt của Trần Diễn, tôi sẽ phải nói gì.
Mười một giờ đêm hôm đó, tôi ngồi một mình ngoài phòng khách, nhắn một tin cho Trần Diễn.
“Nếu em nói Tiểu Dữ bảo với em rằng anh đang trốn trên gác mái nhà mình, anh nghĩ sao?”
Anh ta trả lời rất nhanh: “Hả? Em đang nói cái quái gì thế?”
“Tiểu Dữ nói anh đã trốn trên gác mái được hơn hai mươi ngày rồi. Thằng bé bảo ban ngày anh sẽ xuống cho nó ăn bánh quy, cùng nó xếp lego.”
“Bà xã, em không sao chứ?”
“Em đang cực kỳ tỉnh táo.”
“Tiểu Dữ mới ba tuổi rưỡi, con nó không phân biệt được hiện thực và tưởng tượng đâu. Trước đây thằng bé chả bảo ở nhà trẻ có khủng long còn gì.”
“Thằng bé bảo anh mặc bộ đồ ngủ màu xám, bảo bên ngoài có người đang lùng bắt anh nên anh phải trốn đi.”
“Em thử nghe xem em đang nói cái gì đi. Anh đang ở Đức, ở Munich, giờ này anh đang ngồi ngắm tuyết rơi ngoài cửa sổ đây này. Sao anh có thể phân thân ra ở trên gác mái nhà mình được?”
Tôi không nhắn lại.
“Bà xã à…” Một lúc sau anh ta lại gửi tin nhắn, “Hay là hai mẹ con đi khám bác sĩ tâm lý xem sao? Tiểu Dữ có khi nhớ anh quá nên bị hội chứng lo âu xa cách; còn em thì chắc làm việc quá sức nên hai mẹ con ảnh hưởng lẫn nhau đấy. Thật đấy, đi khám đi em.”
Tôi đặt điện thoại xuống, ngồi bất động trong bóng tối rất lâu.
Về mặt logic, những gì anh ta nói hoàn toàn hợp lí. Một người không thể có mặt ở hai nơi cùng lúc. Nhưng tôi có video từ camera giám sát — cái người đàn ông đi từ gác mái xuống, ăn vụng đồ trong bếp nhà tôi, ôm gấu bông của con trai tôi mà khóc.
Đó không phải là ảo giác. Đó là bằng chứng hình ảnh sống động.
Trừ khi đoạn video đó là giả mạo. Nhưng camera là do chính tay tôi lắp, dùng WiFi nhà tôi, phần mềm trên điện thoại của tôi.
Hoặc, trừ khi một trong hai “Trần Diễn” này, có một người là giả.
Vấn đề cốt lõi là — ai mới là giả?
Ba ngày tiếp theo, tôi tạm gác chuyện này sang một bên, nhưng âm thầm tiến hành một vài việc.
Thứ nhất, tôi bắt đầu ghi chép lại lượng tiêu thụ của mọi loại đồ ăn trong nhà một cách chính xác tuyệt đối. Sáng nào trước khi đi làm tôi cũng chụp ảnh lại, tối về đối chiếu.
Thứ hai, tôi ghi chép lại chỉ số của đồng hồ điện và đồng hồ nước.
Đến ngày thứ ba, mọi dữ liệu đều phơi bày rõ ràng: Bánh mì gối ba ngày hao hụt sáu lát, trong khi sức ăn của tôi và Tiểu Dữ cộng lại căng lắm cũng chỉ bốn lát. Sữa tươi tiêu hao nhiều hơn khoảng hai trăm ml so với bình thường. Và đồng hồ nước… trong khoảng thời gian từ nửa đêm về sáng khi hai mẹ con tôi đã ngủ say, mỗi đêm đều nhích thêm 0.03 đến 0.05 khối.
Có người dùng nước vào lúc rạng sáng.
Có kẻ nào đó đã hoạt động trong căn nhà này khi chúng tôi say giấc.
Tôi còn phát hiện ra vô vàn tiểu tiết biến đổi nhỏ nhặt khác. Góc độ chiếc ghế trong thư phòng không giống như lúc tôi rời đi. Vị trí treo khăn tắm trong nhà vệ sinh bị lệch đi vài centimet. Trên lâu đài lego của Tiểu Dữ tự dưng mọc thêm hai khối hình mà tôi không hề nhớ là đã lắp vào.
Có một người đang sống trong nhà tôi.
Không phải là ma quỷ. Ma quỷ không ăn bánh mì, không uống nước, cũng chẳng biết dùng nhà vệ sinh.
Là một con người bằng xương bằng thịt, đang trốn chui trốn lủi trên gác mái nhà tôi.
Đến cuối tuần, tôi quyết tâm thực hiện một kế hoạch.
Sáng sớm thứ Bảy, tôi chuẩn bị balo cho Tiểu Dữ, bảo thằng bé sang nhà ông bà ngoại ngủ lại một đêm.
“Mẹ cũng đi cùng ạ?” Tiểu Dữ ngước lên hỏi.
“Mẹ có chút việc, tối sẽ qua đón con.”
Khuôn mặt thằng bé thoáng hiện lên vẻ ngập ngừng. “Thế còn ba thì sao ạ?”
“Ba không sao đâu.”
Tiểu Dữ gật gật đầu, nhưng lúc lên xe vẫn ngoái lại nhìn lên cửa sổ nhà.
Tôi đưa con sang nhà ngoại, dặn dò qua loa vài câu rồi xin phép về trước.
“Thu này, con đang có tâm sự gì đúng không?” Mẹ tôi chạy theo hỏi, “Trông sắc mặt con tệ lắm.”
“Chuyện công việc thôi mẹ ạ, không có gì đâu.”
“Bao giờ thì thằng Diễn về?”
“Sắp rồi mẹ.”
Lái xe quay lại khu chung cư, tôi không phi thẳng lên nhà mà đậu xe ở con phố kế bên, rồi đi bộ vòng ra cổng sau để lẻn vào.
Trước khi lên lầu, tôi bật điện thoại kiểm tra màn hình camera.
Cửa gác mái vẫn khóa chặt.
Tôi dùng chìa khóa mở cửa, không bật đèn, tháo giày ra, rồi lặng lẽ ngồi xuống một góc khuất trong phòng khách.
Rèm cửa khép hờ, nắng chiều tà xuyên qua khe hở chiếu xuống một dải sáng hẹp dài trên mặt sàn gỗ.
Căn nhà im ắng đến rợn người.
Một tiếng.
Hai tiếng.
Tôi bắt đầu hoài nghi phải chăng mình đã điên thật rồi.
Đúng hai tiếng rưỡi sau, trên đỉnh đầu chợt vang lên một tiếng động cực kỳ tinh vi.
Là âm thanh ma sát của gỗ — cửa gác mái đang bị đẩy lên.
Tiếp theo là tiếng thả thang gấp, khớp nối kim loại va chạm tạo ra những tiếng “két” thật khẽ.
Tiếng bước chân. Bàn chân trần giẫm lên sàn gỗ, vô cùng nhẹ nhàng, vang lên từ hành lang tầng hai.
Rồi tiếng bước chân dừng lại ở đầu cầu thang.
Im bặt.
Anh ta đang do dự.
Tôi nín thở, nép sát vào lưng ghế sofa, nhìn qua khe hở hướng về phía cầu thang.
Một đôi bàn chân trần xuất hiện trên bậc thang.
Tiếp đến là vạt áo ngủ màu xám đậm.
Và rồi một bàn tay bám lấy tay vịn, những ngón tay trắng bệch, móng tay cắt rất ngắn.
Anh ta bước xuống từng bậc một.
Đến ba bậc cuối cùng, anh ta khựng lại, nghiêng tai nghe ngóng một lát.
Sau đó anh ta xoay người, đi về phía nhà bếp.
Lúc đi ngang qua phòng khách, anh ta cách chỗ tôi ẩn nấp chưa đầy hai mét.
Tôi đã nhìn thấy góc nghiêng khuôn mặt anh ta.
Là Trần Diễn.
Không phải “giống” Trần Diễn, mà chính là bản thân anh ấy. Nốt ruồi nhỏ dưới khóe mắt, đường nét xương quai hàm, độ cao của sống mũi — tất cả đều là anh ấy.
Nhưng anh ấy gầy gò đi quá nhiều so với bốn tháng trước. Gò má nhô cao, hốc mắt trũng sâu, đôi môi khô khốc nứt nẻ. Trông hệt như một kẻ đã trốn chui trốn lủi, nhịn ăn nhịn ngủ suốt một thời gian rất dài.
Anh ấy bước vào nhà bếp.
Tôi nghe thấy tiếng mở tủ lạnh, tiếp đó là tiếng vặn vòi nước — dòng chảy rất nhỏ, chỉ mỏng mảnh như một sợi chỉ.
Tôi từ từ đứng dậy.
Hai chân đã bắt đầu tê rần.
Tôi lết từng bước một đến cửa bếp. Anh ấy đang quay lưng lại phía tôi, đứng bên bồn rửa uống nước.
“Trần Diễn.”
Chiếc cốc rơi loảng xoảng xuống sàn nhà.
Anh ấy giật thót mình quay phắt lại, cả người lùi lại va mạnh vào kệ bếp.
“Tiểu Thu—”
Giọng anh ấy khản đặc, giống như người đã rất lâu rồi không cất tiếng nói.
Chúng tôi nhìn chằm chằm vào mắt nhau mất chừng ba giây.
Và rồi, nước mắt anh ấy tuôn rơi lã chã.
Không phải là những tiếng nức nở kìm nén, mà cả cơ thể anh ấy trượt dài xuống sàn, hai tay ôm lấy mặt, bờ vai run rẩy dữ dội.
Tôi ngồi xổm xuống, chỉ cách anh ấy một bước chân. “Anh đang làm cái quái gì ở đây thế?”
Anh ấy lắc đầu quầy quậy, khóc đến mức không thốt nên lời.
“Chẳng phải anh đang ở Đức sao?”
Anh ấy ngẩng đầu lên, khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt, “Anh chưa từng đi Đức.”
“Thế kẻ ngày nào cũng gọi video cho em là ai?”
“Không phải anh.” Giọng anh ấy vỡ vụn, “Kẻ đó không phải là anh.”
Tôi vươn tay ra, chạm nhẹ vào cánh tay anh ấy.
Hơi ấm truyền đến. Có thân nhiệt. Là một con người bằng xương bằng thịt.
“Anh kể lại mọi chuyện từ đầu đến cuối cho em nghe.”
Anh ấy quệt nước mắt, khóc thêm một trận nữa rồi mới dần bình tĩnh lại.
“Anh đã sống trên gác mái được hai mươi sáu ngày rồi.” Giọng anh ấy thều thào, như thể sợ bị ai đó nghe thấy, “Trước đó anh thuê một căn trọ ở khu Đông thành phố, nhưng bị bọn chúng phát hiện. Nơi đó không an toàn nữa, anh buộc phải trốn về nhà mình.”
“Bị ai phát hiện?”
Anh ấy cắn chặt môi. “Anh không thể nói.”
“Không thể nói?”
“Nếu anh nói ra, em cũng sẽ gặp nguy hiểm. Cả Tiểu Dữ nữa.”
“Em đã nằm gọn trong vòng nguy hiểm rồi.” Tôi lạnh lùng đáp, “Chồng em sống trên gác mái nhà mình gần cả tháng trời, ngày nào cũng có một kẻ mạo danh anh ấy gọi điện video tâm tình với em mà em chẳng hề hay biết — anh thấy tình cảnh của em bây giờ có chỗ nào là an toàn không?”
Anh ấy lại bắt đầu khóc.
“Bốn tháng trước anh bảo đi công tác Đức, dự án kéo dài sáu tháng. Hành lý là do tự tay anh chuẩn bị, chính em lái xe đưa anh ra sân bay. Rốt cuộc anh có lên chuyến bay đó không?”
“Không có.”
“Vậy anh đi đâu?”
“Anh vào cổng an ninh rồi lén chuồn ra bằng một lối đi khác.” Anh ấy cúi gằm mặt, “Sau đó bắt taxi đi thẳng đến khu Đông.”
“Vì sao?”
“Bởi vì anh buộc phải bốc hơi khỏi thế giới này.”
“Bốc hơi? Anh có gia đình, có con cái, tại sao lại phải biến mất?”
“Tiểu Thu!” Anh ấy đột nhiên ngẩng phắt đầu lên, hai mắt đỏ hoe, “Em tưởng anh muốn thế lắm à? Anh nằm mơ cũng muốn được về nhà. Ngày ngày ở trên gác mái nghe Tiểu Dữ gọi ‘Ba ơi’ dưới nhà, em có hiểu cảm giác đó tàn nhẫn đến mức nào không?”
Giọng anh ấy hơi mất kiểm soát. Tôi vô thức liếc mắt ra phía cửa sổ.
Anh ấy cũng lập tức nhận ra, vội vàng hạ giọng xuống. “Anh xin lỗi.”
“Anh đứng lên trước đã.” Tôi đỡ anh ấy ra bàn ăn ngồi, rót cho anh ấy một cốc nước.
Anh ấy ôm chặt lấy chiếc cốc bằng cả hai tay, uống từng ngụm dè dặt.
“Anh bắt đầu tiếp xúc với Tiểu Dữ từ lúc nào?”
“Ngày thứ hai sau khi trốn lên gác mái. Trưa hôm đó thằng bé ngủ dậy, dì giúp việc đang ở dưới bếp chuẩn bị đồ ăn xế, nó tự mò lên tầng hai chơi, đúng lúc bắt gặp anh đang kéo thang gấp xuống.”
“Anh không khóa cửa gác mái à?”
“Anh có khóa. Nhưng ổ khóa đó là móc từ bên ngoài vào, anh đứng bên trong vẫn có thể gạt chốt ra được. Cái ổ khóa đó chỉ là treo hờ để qua mắt người khác chứ không hề khóa.”
Tôi chợt nhớ lại lúc mình kiểm tra, ổ khóa vẫn phủ một lớp bụi mỏng, rõ ràng chưa từng có dấu vết bị chạm tay vào.
“Lần nào chui ra anh cũng phải tỉ mỉ phủi lại bụi cho giống y hệt ban đầu.” Anh ấy dường như nhìn thấu suy nghĩ của tôi, “Anh biết kiểu gì cũng có ngày em sinh nghi mà chạy lên đó kiểm tra.”
Tôi ngả người ra lưng ghế, chăm chú quan sát người đàn ông trước mặt.
Chồng tôi.
Anh ấy đã âm thầm giấu mình trên gác mái nhà tôi ròng rã hai mươi sáu ngày trời, vậy mà tôi chẳng hề mảy may hay biết.
“Thế cái kẻ ngày nào cũng gọi video cho em—”
“Đó không phải là anh.” Anh ấy nhắc lại, “Đó là màn kịch do bọn họ dàn dựng.”
“Bọn họ là ai?”
Anh ấy chìm vào im lặng.
“Trần Diễn, rốt cuộc bọn họ là ai?”
“Một tổ chức.” Cuối cùng anh ấy cũng chịu hé môi, “Có liên quan đến công việc trước đây của anh.”
Trước đây Trần Diễn làm nghiên cứu và phát triển tại một công ty dược phẩm sinh học tên là Tư Nặc Khang. Quy mô công ty không tính là lớn, nhưng nghe đồn đang nắm trong tay vài dự án trị liệu gen rất đột phá. Anh ấy nhảy việc sang đó từ ba năm trước, chế độ đãi ngộ rất tốt nên tôi cũng chưa bao giờ hỏi sâu.
“Tư Nặc Khang?”
Anh ấy gật đầu xác nhận.
“Anh đã gặp phải chuyện gì ở đó?”
“Anh không thể—”
“Trần Diễn.” Tôi ngắt lời anh ấy, “Nếu anh còn lặp lại hai chữ ‘không thể’ một lần nào nữa, em sẽ báo cảnh sát ngay lập tức.”
Anh ấy ngước lên, nhìn tôi thật lâu.
“Anh đã phát hiện ra một tập dữ liệu lâm sàng.” Giọng anh ấy yếu ớt đến mức gần như không nghe thấy, “Dữ liệu thử nghiệm giai đoạn ba. Công ty có một loại thuốc mới, mã hiệu GR – 17, dự kiến cuối năm nay sẽ nộp hồ sơ xin cấp phép ra thị trường. Lúc dọn dẹp tài liệu anh vô tình phát hiện ra, trong đợt thử nghiệm giai đoạn hai có sáu bệnh nhân xuất hiện phản ứng phụ cực kỳ nghiêm trọng về hệ thần kinh, hai người trong số đó đã tử vong sau ba tháng.”
“Những dữ liệu đó đã bị xóa sạch khỏi báo cáo.”
“Làm sao anh biết là bị xóa?”
“Vì anh đã xem được dữ liệu gốc. Có một đồng nghiệp sơ ý lưu nhầm file chưa qua chỉnh sửa vào ổ cứng dùng chung mà anh có quyền truy cập. Anh mở ra đối chiếu thì thấy, phiên bản nộp lên Cục Quản lý Dược hoàn toàn khác một trời một vực so với dữ liệu gốc.”
“Anh có báo cáo với công ty không?”
“Anh tìm gặp lãnh đạo trực tiếp trước tiên. Ông ấy trầm ngâm rất lâu, rồi bảo chuyện này không thuộc thẩm quyền của ông ấy, nhắc anh đừng đi rêu rao lung tung. Ngay ngày hôm sau, ông ấy bị thuyên chuyển công tác.”
“Rồi sao nữa?”
“Rồi anh đã phạm phải một sai lầm chí mạng.” Anh ấy nhắm nghiền mắt lại, “Anh đã lén copy dữ liệu gốc ra một bản.”
“Anh cất ở đâu?”
“Trong USB. Hiện giờ đang ở trên gác mái.”
Tôi lờ mờ chắp vá được câu chuyện.
“Công ty phát hiện ra việc anh copy dữ liệu?”
“Không phải công ty. Mà là thế lực đứng sau lưng công ty. Cổ đông lớn nhất của Tư Nặc Khang là một quỹ đầu tư mang tên Quân Hợp Tư Bản, người kiểm soát thực tế là Bùi Chính Tắc. Nếu GR – 17 được cấp phép lên kệ thành công, doanh thu dự kiến hàng năm sẽ vượt mức tám tỷ.”
“Tám tỷ.”
“Đúng vậy. Cho nên cái tập dữ liệu bị xóa đi đó, trị giá tám tỷ. Còn anh thì đang nắm giữ bản sao lưu.”
“Làm sao bọn họ biết anh giữ bản copy?”
“Anh cũng không rõ. Nhưng cái ngày anh nộp đơn xin nghỉ việc, có hai gã đàn ông lạ mặt đứng đợi anh ở bãi đỗ xe công ty. Chúng không động thủ, chỉ đứng trân trân nhìn anh rất lâu. Tối hôm đó, xe của anh bị cạy khóa, đồ đạc bên trong bị lục tung lộn xộn.”
“Sao anh không báo cảnh sát?”
“Báo kiểu gì? Nói rằng có người muốn giết tôi chỉ vì tôi phát hiện ra một công ty dược làm giả số liệu à? Anh căn bản không biết rõ lai lịch của thế lực đó, chạy đi báo cảnh sát chỉ tổ lạy ông tôi ở bụi này.”
“Thế nên anh mới chọn cách bốc hơi.”
“Anh đã liên hệ với một người bạn từng làm trong ngành an ninh, hắn ta giúp anh lên một kế hoạch bài bản. Vờ như xuất ngoại, thay số điện thoại, giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt, tuyệt đối không quẹt thẻ ngân hàng.”
“Thế cái màn kịch xuất ngoại kia được dàn dựng kiểu gì?”
“Hắn ta tìm được một kẻ có giọng nói cực kỳ giống anh, kết hợp thêm chút thủ thuật xử lý âm thanh. Ảnh đăng lên mạng thì dùng AI tạo ra, bối cảnh ghép từ những kho ảnh có sẵn. Gọi video thì dùng công nghệ Deepfake đổi mặt.”
Bốn tháng ròng, tôi lầm bầm, bốn tháng trời gọi video và nhắn tin, vậy mà tôi không hề nhận ra kẻ đó không phải là chồng mình.
Anh ấy cúi đầu im lặng.
“Anh thấy thế này mà là bình thường à?”
“Công nghệ đó tinh vi hơn em tưởng tượng rất nhiều. Bọn họ đã chuẩn bị vô cùng chu toàn.”
“Bọn họ?”
“Người bạn giúp anh có cả một đội ngũ đứng sau.”
“Cái gã bạn làm an ninh của anh. Hắn rốt cuộc là ai?”
“Tên tuổi thì anh không tiện tiết lộ. Nhưng cậu ấy đã dốc lòng giúp đỡ anh. Cậu ấy nói chỉ khi lừa được tất cả mọi người, bao gồm cả em, rằng anh đã thực sự đi nước ngoài, thì đám người của Bùi Chính Tắc mới không tìm đến làm phiền em và con.”
“Thế là anh giấu giếm tất cả mọi người. Cả bố mẹ đẻ của anh?”
“Tất cả mọi người. Mẹ anh đinh ninh anh đang ở Đức, em cũng đinh ninh anh ở Đức, đồng nghiệp thì nghĩ anh nhảy việc sang công ty mới.”
“Nhưng thực tế anh chẳng sang công ty nào cả.”
“Đúng. Sau khi nộp đơn từ chức, anh bốc hơi luôn. Anh thuê một căn trọ ở khu Đông, trả bằng tiền mặt, dùng giấy tờ tùy thân giả.”
“Sau đó bị lộ, nên anh mới tháo chạy về nhà mình.”
“Có kẻ đã đến do thám khu vực quanh nhà trọ ở khu Đông, anh nhìn thấy qua khe cửa sổ. Anh không dám chắc chúng có phải đang lùng sục anh hay không, nhưng anh không thể mạo hiểm, ngay đêm đó anh đã dọn đồ đi. Chỉ có nhà mình là nơi trú ẩn an toàn nhất, vì chúng tuyệt đối không thể ngờ anh dám cả gan trốn ngay trong nhà mình.”
“Anh vào nhà bằng cách nào? Chìa khóa em giữ cơ mà.”
“Anh có chìa khóa dự phòng. Hôm chuẩn bị ra sân bay, anh đã lén đi đánh thêm một chiếc.”
Tôi nhắm mắt lại, đưa tay day day huyệt thái dương.
Người đàn ông này.
Trong suốt bốn tháng qua, anh ấy ngụy tạo vỏ bọc xuất ngoại, đơn độc lẩn trốn suốt ba tháng ròng. Một tháng cuối cùng thì trốn chui trốn lủi trên gác mái nhà tôi, mỗi ngày tranh thủ lúc tôi vắng nhà mới dám trèo xuống cắn vài miếng đồ ăn, lén lút nhìn trộm con trai, rồi lại chui tọt vào cái không gian tăm tối chưa đầy mười lăm mét vuông ấy.
“Thế còn cái USB?”
“Vẫn ở trên gác mái, anh đã giấu kỹ rồi.”
“Anh định tính sao? Cứ trốn chui trốn lủi mãi thế này à?”
“Không đâu. Anh ấy lắc đầu, Anh đang đợi thời cơ. Người bạn đó nói, cậu ấy đang móc nối với những người có thể sử dụng được tập dữ liệu này, phóng viên hoặc tay trong ở Cục Quản lý Dược. Chỉ cần số liệu bị phanh phui, dự án GR – 17 bị đình chỉ, Bùi Chính Tắc sẽ chẳng còn lý do gì để bám riết lấy anh nữa.”
“Đợi bao lâu?”
“Cậu ấy bảo sắp xong rồi.”
“Anh đợi bốn tháng ròng, và hắn ta bảo sắp xong rồi?”
Anh ấy không đáp.
“Tiểu Dữ đã biết anh ở đây. Thằng bé sắp không giữ được bí mật nữa rồi. Nó đã kể hết với em.”